Hội thảo tập trung thảo luận các vấn đề liên quan đến phương thức quản lý, phân loại sản phẩm, trách nhiệm của doanh nghiệp và tính khả thi của các quy định pháp luật, hướng tới xây dựng hệ thống quản lý an toàn thực phẩm hiện đại, minh bạch, bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng và tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phát triển bền vững.
Toàn cảnh hội thảo góp ý Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi).
Phát biểu khai mạc hội thảo, GS.TS. Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch VUSTA, nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ thống quản lý an toàn thực phẩm theo hướng hiện đại, chủ động phòng ngừa rủi ro, kiểm soát nguy cơ từ sớm, từ xa và xuyên suốt chuỗi cung ứng.
GS.TS. Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch VUSTA, phát biểu tại hội thảo.
Theo nội dung được thảo luận tại hội thảo, Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) gồm 9 chương, 76 điều, đề xuất nhiều nội dung quan trọng nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước; tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số; đẩy mạnh hậu kiểm; quản lý hoạt động kinh doanh thực phẩm trên các sàn thương mại điện tử; đồng thời nâng cao trách nhiệm bảo đảm an toàn thực phẩm đối với thức ăn đường phố và suất ăn tập thể.
Một trong những vấn đề được đặt ra là cần phân bổ nguồn lực kiểm tra, giám sát phù hợp với mức độ rủi ro của từng nhóm sản phẩm, thay vì áp dụng phương thức quản lý đồng nhất trong mọi trường hợp. Cách tiếp cận này góp phần tập trung nguồn lực vào những lĩnh vực có nguy cơ cao, nâng cao hiệu quả phòng ngừa và kiểm soát vi phạm.
Tại hội thảo, ông Nguyễn Văn Nhiên, Phó Chủ tịch VINAFOSA, cho rằng các quy định pháp luật về an toàn thực phẩm cần vừa đáp ứng yêu cầu bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, vừa phù hợp với đặc tính của từng nhóm sản phẩm, mức độ rủi ro, thông lệ quốc tế và điều kiện thực tế tại Việt Nam.
BS, ThS.Nguyễn Văn Nhiên, Phó Chủ tịch VINAFOSA, trình bày tham luận về hoàn thiện các quy định pháp luật an toàn thực phẩm.
Theo đó, việc đơn giản hóa những thủ tục không cần thiết cần đi đôi với việc duy trì đầy đủ trách nhiệm bảo đảm an toàn thực phẩm của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh.
Một yêu cầu quan trọng khác là phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý, các cấp thực thi và từng chủ thể trong chuỗi cung ứng. Việc xác định rõ trách nhiệm sẽ góp phần hạn chế chồng chéo, nâng cao hiệu quả phối hợp và bảo đảm tính thống nhất trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật.
Bên cạnh trách nhiệm quản lý nhà nước, hội thảo cũng nhấn mạnh vai trò tự kiểm soát của cơ sở sản xuất, kinh doanh; đồng thời chú trọng công tác kiểm nghiệm, đánh giá nguy cơ, cảnh báo và truyền thông, giáo dục kiến thức an toàn thực phẩm cho cộng đồng.
Đây là những yếu tố cần được xem xét đồng bộ trong quá trình hoàn thiện chính sách, bởi hiệu quả quản lý không chỉ phụ thuộc vào số lượng quy định được ban hành mà còn nằm ở khả năng thực thi, kiểm soát và phòng ngừa vi phạm trong thực tế.
Một nội dung đáng chú ý tại hội thảo là yêu cầu phân biệt rõ giữa an toàn thực phẩm, chất lượng sản phẩm và thông tin công bố, ghi nhãn. Đây là vấn đề có ý nghĩa trực tiếp đối với doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu, phân phối và người tiêu dùng.
Ông Huỳnh Minh Quang, Giám đốc Khối An toàn, Sức khỏe, Môi trường và Chất lượng thuộc Tập đoàn Nguyên liệu Á Châu (AIG), đề nghị làm rõ ranh giới giữa các khái niệm này để bảo đảm việc phân loại, đánh giá và xử lý vi phạm có căn cứ phù hợp.
Ông Huỳnh Minh Quang, đại diện Tập đoàn Nguyên liệu Á Châu (AIG), trình bày ý kiến về phân biệt an toàn thực phẩm, chất lượng sản phẩm và thông tin công bố, ghi nhãn.
Theo nội dung tham luận, an toàn thực phẩm liên quan đến nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng; chất lượng phản ánh đặc tính của sản phẩm hoặc mức độ đáp ứng tiêu chuẩn đã công bố; còn thông tin công bố, ghi nhãn liên quan đến tính chính xác và trung thực của thông tin cung cấp cho thị trường.
Vì vậy, sai lệch về chất lượng hoặc thông tin sản phẩm không đồng nghĩa trong mọi trường hợp với việc sản phẩm không bảo đảm an toàn thực phẩm. Việc đánh giá và xử lý cần căn cứ vào bản chất vi phạm, nguy cơ nội tại, mức độ phơi nhiễm, nhóm đối tượng sử dụng, công dụng và lịch sử kiểm soát của sản phẩm.
Đối với những sản phẩm có đặc tính giao thoa giữa các nhóm quản lý, cần có hướng dẫn phân loại rõ ràng, khách quan và thống nhất, hạn chế cách hiểu khác nhau trong quá trình thực thi.
Đặc biệt, các quy định về phân loại sản phẩm cần được thiết kế theo hướng minh bạch, có căn cứ khoa học và tương xứng với mức độ nguy cơ. Điều này không chỉ giúp cơ quan quản lý nâng cao hiệu quả giám sát mà còn tạo cơ sở để doanh nghiệp chủ động tuân thủ pháp luật, giảm thiểu những vướng mắc phát sinh trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Bà Trần Ngọc Ánh - Giám đốc đối ngoại Công ty Danone Việt Nam trình bày tại hội nghị.
Từ thực tiễn hoạt động sản xuất, nhập khẩu và phân phối thực phẩm, các đại biểu tham dự hội thảo đề nghị tăng cường tham vấn doanh nghiệp, chủ sở hữu nhãn hàng và các tổ chức được ủy quyền trong quá trình hoàn thiện các quy định pháp luật.
Các văn bản hướng dẫn liên quan đến phân loại, công bố sản phẩm, quản lý dữ liệu và hậu kiểm cần được xây dựng, lấy ý kiến sớm. Đồng thời, cần có lộ trình chuyển tiếp hợp lý đối với hồ sơ hiện hữu, sản phẩm đang lưu hành, nhãn bao bì, dữ liệu, hợp đồng và các thỏa thuận ủy quyền.
Việc chuẩn bị đầy đủ các quy định hướng dẫn và lộ trình chuyển tiếp sẽ giúp tổ chức, cá nhân có thời gian thích ứng, hạn chế phát sinh vướng mắc và bảo đảm tính liên tục của hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Đây cũng là vấn đề cần được quan tâm nhằm bảo đảm sự cân bằng giữa yêu cầu quản lý nhà nước và điều kiện thực tế của doanh nghiệp. Một quy định có tính khả thi cần xác định rõ nghĩa vụ, cách thức thực hiện, cơ chế kiểm tra và trách nhiệm của các bên liên quan.
Thông qua tham vấn, các cơ quan xây dựng chính sách có thêm cơ sở đánh giá tác động của quy định, nhận diện những điểm chưa rõ hoặc có khả năng gây khó khăn trong quá trình thực hiện, từ đó hoàn thiện dự thảo theo hướng đồng bộ và hiệu quả hơn.
Phát biểu tổng kết các ý kiến tại hội thảo, TS. Lê Văn Giang, Chủ tịch VINAFOSA, nhấn mạnh yêu cầu kết hợp đồng bộ giữa quản lý nhà nước dựa trên nguy cơ, trách nhiệm tự kiểm soát của doanh nghiệp, năng lực giám sát và cảnh báo, truy xuất nguồn gốc cùng hệ thống dữ liệu phục vụ quản lý.
TS. Lê Văn Giang, Chủ tịch VINAFOSA, phát biểu tổng kết các ý kiến, tham luận tại hội thảo.
Theo định hướng chuyên môn được VINAFOSA thúc đẩy, cách tiếp cận An toàn thực phẩm tổng thể (Total Food Safety – TFS) hướng tới kết nối công nghệ, các hệ thống thực hành và quản lý an toàn thực phẩm, văn hóa an toàn thực phẩm và chuyển đổi số thành một hệ thống phòng ngừa, kiểm soát và cải tiến liên tục.
Trong đó, việc phân biệt rõ mối nguy, nguy cơ và rủi ro có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình xây dựng chính sách, đánh giá và lựa chọn biện pháp kiểm soát phù hợp.
Quản lý dựa trên nguy cơ cần đi cùng phân định trách nhiệm rõ ràng; hoạt động hậu kiểm cần dựa trên dữ liệu và bằng chứng; truy xuất nguồn gốc phải gắn với khả năng kiểm soát thực chất trong chuỗi cung ứng.
Đây cũng là hướng tiếp cận có ý nghĩa đối với công tác phòng, chống hàng giả và gian lận trong lĩnh vực thực phẩm. Khi thông tin sản phẩm, nguồn gốc, quá trình lưu thông và trách nhiệm của các chủ thể được quản lý minh bạch hơn, cơ quan chức năng và doanh nghiệp sẽ có thêm cơ sở để phát hiện, ngăn ngừa và xử lý những hành vi vi phạm theo quy định pháp luật.
Trên cơ sở những nội dung được trao đổi, VUSTA và VINAFOSA thống nhất xây dựng bản kiến nghị nhằm đề xuất cơ quan có thẩm quyền xem xét, hoàn thiện dự thảo Luật theo hướng quản lý dựa trên nguy cơ, phân định rõ trách nhiệm, tăng cường hậu kiểm và ứng dụng dữ liệu, bằng chứng khoa học trong quản lý an toàn thực phẩm.
Với vai trò là tổ chức xã hội – nghề nghiệp hoạt động trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, VINAFOSA tiếp tục phát huy năng lực khoa học – kỹ thuật, kết nối các nhà khoa học, cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp, đóng góp ý kiến nhằm hoàn thiện chính sách theo hướng khoa học, minh bạch và khả thi.
Việc tiếp thu đầy đủ các ý kiến từ thực tiễn sẽ góp phần xây dựng khuôn khổ pháp lý đáp ứng yêu cầu bảo vệ sức khỏe cộng đồng, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời tạo điều kiện để ngành thực phẩm Việt Nam phát triển bền vững.
Hoàn thiện Luật An toàn thực phẩm không chỉ là yêu cầu đối với công tác quản lý nhà nước mà còn là nền tảng để nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp, củng cố niềm tin của người tiêu dùng và thúc đẩy môi trường kinh doanh thực phẩm minh bạch, an toàn.
Lê Nhật Hà




